Bài 5 Nhiệt nóng chảy riêng

Lớp 12Vật Lý10 câu hỏiBài tập

Phần 1

Câu 1

(Bài 5.1 trang 15 SBT Vật lí 12) Khi đo nhiệt độ của một chất đang nóng chảy,
Ata không thể xác định được nhiệt dung riêng hay nhiệt nóng chảy riêng của chất đó.
Bta có thể xác định nhiệt dung riêng của chất đó.
Cta có thể xác định nhiệt nóng chảy riêng của chất đó.
Dta có thể xác định được cả nhiệt dung riêng và nhiệt nóng chảy riêng của chất đó.

Câu 2

(Bài 5.2 trang 16 SBT Vật lí 12) Một bạn học sinh làm thí nghiệm với đầy đủ thiết bị để xác định được nhiệt nóng chảy riêng của một chất khi đã biết nhiệt dung riêng của chất đó trong trạng thái rắn và trạng thái lỏng. Hãy chỉ ra phương án thí nghiệm sai trong các phương án sau:
ABắt đầu thí nghiệm từ khi chất đó đang ở trạng thái rắn và kết thúc khi đã thấy đã có sự nóng chảy của chất đó.
BBắt đầu thí nghiệm từ khi chất đó đang ở trạng thái rắn và kết thúc khi chất đó đã ở trạng thái lỏng.
CThực hiện thí nghiệm từ khi chất đó bắt đầu đạt đến nhiệt độ nóng chảy nhưng chưa nóng chảy và kết thúc khi nóng chảy hoàn toàn và vẫn đang ở nhiệt độ nóng chảy.
DThực hiện thí nghiệm từ khi chất bắt đầu đạt đến nhiệt độ nóng chảy nhưng chưa nóng chảy và kết thúc đo khi chất đó đã hoàn toàn ở trạng thái lỏng.

Câu 3

(Bài 5.3 trang 16 SBT Vật lí 12) Trong nhiều bài toán và thí nghiệm nghiên cứu về nhiệt, nhiệt lượng,... người ta hay chọn mốc đo là 0 °C vì
A0 °C là nhiệt độ của nước đá đang tan và nhiệt nóng chảy riêng của nước đá khá lớn nên việc tạo ra và duy trì môi trường thực nghiệm tại 0 °C rất thuận lợi cho các thí nghiệm.
B0 °C là nhiệt độ chuẩn được các nhà khoa học công nhận.
C0 °C là nhiệt độ trong môi trường ngăn đá của tủ lạnh hoặc tủ đông nên việc chọn mốc đo tại 0 °C rất thuận lợi cho các thí nghiệm.
D0 °C là nhiệt độ dễ tính toán.

Câu 4

(Bài 5.4 trang 16 SBT Vật lí 12) Nhiệt nóng chảy riêng của một chất là nhiệt lượng cần cung cấp để 1 kg chất đó
Anóng chảy hoàn toàn ở nhiệt độ nóng chảy.
Bnóng chảy hoàn toàn ở nhiệt độ sôi.
Cnóng chảy hoàn toàn.
Dtính từ nhiệt độ mà chất đó bắt đầu nóng chảy tới nhiệt độ mà chất đó nóng chảy hoàn toàn.

Câu 5

(Bài 5.5 trang 16 SBT Vật lí 12) Trước đây, người ta thường sử dụng cầu chì để đảm bảo an toàn điện cho các gia đình. Hiện nay, cầu chì vẫn được sử dụng để bảo vệ một số thiết bị điện tử. Bộ phận chủ yếu của cầu chì là một dây chì có kích thước phù hợp được mắc nối tiếp để thay thế cho một đoạn dây dẫn trong mạch. Khi dòng điện tăng đột ngột do chập điện, hiệu điện thế nguồn tăng bất thường,... thì cầu chì sẽ ngắt mạch điện. Hãy sử dụng Bảng 4.1 và Bảng 5.1 SGK để giải thích nguyên lí hoạt động trên của cầu chì.
AChì có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn nhiều so với các kim loại thường dùng làm dây dẫn điện; đồng thời nhiệt dung riêng và nhiệt nóng chảy riêng của chì cũng thấp, nên khi dòng điện tăng đột ngột, nhiệt lượng toả ra nhanh chóng làm dây chì nóng chảy và ngắt mạch điện.
BChì có nhiệt độ nóng chảy rất cao nên khi dòng điện tăng đột ngột, dây chì nở dài ra và tự ngắt mạch điện.
CChì có nhiệt dung riêng rất lớn nên khi dòng điện tăng đột ngột, dây chì hấp thụ toàn bộ nhiệt lượng và làm mạch điện ngừng hoạt động.
DChì có nhiệt nóng chảy riêng rất lớn nên dây chì không bị nóng chảy mà chỉ làm giảm hiệu điện thế trong mạch.

Câu 6

(Bài 5.6 trang 17 SBT Vật lí 12) Khi đúc kim loại để tạo hình mong muốn như vỏ máy, trục quay, xoong nồi,... người ta cần nấu chảy kim loại và đổ vào khuôn. Với nhiệt độ phòng thường được chọn là 300 K, hãy sử dụng Bảng 4.1 và Bảng 5.1 SGK để tính nhiệt lượng cần cung cấp khi đúc một chiếc nồi đồng nặng 2 kg và một chiếc nồi sắt nặng 2 kg. Từ đó nhận xét, so sánh để giải thích cho sự xuất hiện sớm của đồ đồng trong lịch sử loài người.
ANhiệt lượng để đúc nồi đồng khoảng 1163320 J, để đúc nồi sắt khoảng 1881040 J; đúc đồng cần nhiệt lượng thấp hơn và nhiệt độ nóng chảy của đồng cũng thấp hơn sắt nên chế tạo đồ đồng đơn giản hơn, vì vậy đồ đồng xuất hiện khá sớm.
BNhiệt lượng để đúc nồi đồng khoảng 1881040 J, để đúc nồi sắt khoảng 1163320 J; đúc sắt dễ hơn nên đồ sắt xuất hiện sớm hơn đồ đồng.
CNhiệt lượng để đúc nồi đồng và nồi sắt bằng nhau vì chúng có cùng khối lượng 2 kg; đồ đồng xuất hiện sớm do đồng có màu đẹp hơn.
DNhiệt lượng để đúc nồi đồng nhỏ hơn nồi sắt nhưng nhiệt độ nóng chảy của đồng lại cao hơn sắt nên đồ đồng xuất hiện muộn hơn.

Câu 7

(Bài 5.7 trang 17 SBT Vật lí 12) Hàn thiếc là một phương pháp nối kim loại với nhau bằng một kim loại hay hợp kim trung gian gọi là vảy hàn. Trong quá trình nung nóng để hàn, vảy hàn sẽ nóng chảy trước trong khi vật hàn chưa nóng chảy hoặc nóng chảy với số lượng không đáng kể. Khi đó kim loại làm vảy hàn sẽ khuếch tán thẩm thấu vào trong kim loại vật hàn tạo thành mối hàn. Thiếc hàn là hợp kim thiếc - chì có nồng độ phù hợp với mục đích sử dụng. Ví dụ thiếc hàn 60 gồm 60%Sn và 40%Pb được sử dụng để hàn các dây dẫn hay mối nối trong mạch điện. Thiếc hàn phải có
Anhiệt độ nóng chảy và nhiệt nóng chảy riêng nhỏ hơn của kim loại vật hàn.
Bnhiệt độ nóng chảy lớn để tránh nóng chảy mối hàn trong quá trình sử dụng.
Cnhiệt nóng chảy riêng lớn để tránh nóng chảy mối hàn trong quá trình sử dụng.
Dnhiệt độ nóng chảy và nhiệt nóng chảy riêng lớn hơn của kim loại vật hàn.

Câu 8

(Bài 5.8 trang 17 SBT Vật lí 12) Khi muốn làm thí nghiệm để xác định nhiệt nóng chảy riêng của một chất, chúng ta có thể chọn nước đá để thí nghiệm vì
Anước đá có nhiệt độ nóng chảy ở mức an toàn và nhiệt nóng chảy riêng ở mức độ khá cao.
Bnhiệt nóng chảy riêng của nước đá thấp nên dễ đo.
Cnước đá có sẵn hơn các chất khác.
Dnhiệt dung riêng của nước lỏng cao làm nhiệt độ sẽ tăng chậm nên dễ đo.

Câu 9

(Bài 5.9 trang 17 SBT Vật lí 12) Trong thí nghiệm xác định nhiệt nóng chảy riêng của nước đá như SGK, việc sử dụng công thức λ H 2 O = P ( τ N τ M ) m làm cho giá trị của nhiệt nóng chảy riêng đo được
Alớn hơn thực tế vì chưa tính đến hao phí nhiệt.
Bnhỏ hơn thực tế vì chưa tính đến hao phí nhiệt.
Clớn hơn thực tế do khối lượng nước đá giảm dần khi nóng chảy.
Dnhỏ hơn thực tế vì khối lượng nước đá tăng lên khi chuyển sang trạng thái lỏng.

Câu 10

(Bài 5.10 trang 18 SBT Vật lí 12) Trong thí nghiệm đo nhiệt nóng chảy riêng của nước đá như SGK, người ta sử dụng 0,6 kg nước đá. Oát kế đo được là 930 W. Đồ thị thực nghiệm đo được như Hình 5.1.

Hãy xác định thời gian để nước đá tan hoàn toàn, tính nhiệt nóng chảy riêng của nước đá và tính lại nhiệt nóng chảy riêng của nước đá nếu hao phí nhiệt lượng là 2%.
AThời gian nước đá tan hoàn toàn là 220 s; nhiệt nóng chảy riêng của nước đá là 341000 J/kg; nếu hao phí nhiệt lượng là 2% thì nhiệt nóng chảy riêng là 334180 J/kg.
BThời gian nước đá tan hoàn toàn là 200 s; nhiệt nóng chảy riêng của nước đá là 310000 J/kg; nếu hao phí nhiệt lượng là 2% thì nhiệt nóng chảy riêng là 303800 J/kg.
CThời gian nước đá tan hoàn toàn là 220 s; nhiệt nóng chảy riêng của nước đá là 334180 J/kg; nếu hao phí nhiệt lượng là 2% thì nhiệt nóng chảy riêng là 341000 J/kg.
DThời gian nước đá tan hoàn toàn là 100 s; nhiệt nóng chảy riêng của nước đá là 155000 J/kg; nếu hao phí nhiệt lượng là 2% thì nhiệt nóng chảy riêng là 151900 J/kg.